logo mobile hoaphuongdo

lienhequangcao

Cụm di tích lịch sử văn hóa đình chùa Tiểu Trà

“Lớn đình Vàng, sang đình Tiểu”, người dân Tiểu Trà, phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh, ngày nay vẫn nằm lòng câu ca như là niềm tự hào về ngôi đình đã được xây dựng từ gần 4 thế kỷ nay. Đó là đình Tiểu Trà - khu dân cư Tiểu Trà, phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh.

 Đình làng Tiểu Trà sau nhiều lần trùng tu

Đình làng Tiểu Trà sau nhiều lần trùng tu

Theo những bậc cao niên nơi đây thì đình đã được xây dựng gắn với việc lập làng gần 400 năm nay. Xưa đình Tiểu Trà là ngôi nhà tranh tre được xây dựng trên khoảng đất rộng nằm bên sông Trà Lĩnh chảy ra biển, thờ thành hoàng làng là Phạm Hải - Nam Hải Đại Vương, một danh tướng thời đại Hùng Vương. Đó cũng là nơi lần đầu tiên đội hải thuyền của tướng công Phạm Hải tuân lệnh triều đình về đây giúp dân trị loài hải tặc, xây dựng điền trang, khai khẩn đất hoang, đào mương, đắp đập.
Tại đây trở thành một bến thuyền mang tên Bến Đạt. Năm 1680, đời vua Lê Hy Tông, ngôi đình tranh tre được xây dựng bằng gạch lợp ngói gồm một cung đình và 3 gian, 2 trái ở khu đất đình ngày nay. Đến năm Thành Thái thứ 9, năm 1892, dân làng 3 thôn Tiểu Trà, Trà Khê, Phấn Dũng, lại một lần nữa chung tay góp sức để sửa chữa, tôn tạo và xây dựng thêm 5 gian đình ngoài, nhà văn chỉ, tường thành…
Qua nhiều lần tu bổ, nay đình làng có khuôn viên rộng khoảng 8 sào bắc bộ, mái cong lợp mũi, xây theo lối chữ Đinh, gồm 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung. Giữa gian tiền đường là ban thờ thành hoàng làng Nam Hải Đại Vương. Theo thần tích, ngài sinh vào niên hiệu vua hùng Vương thứ 18, tại Nam Mai, Bố Chính. Lúc còn nhỏ, Phạm Hải thông minh, giỏi cả văn lẫn võ, nổi tiếng khắp vùng. Khi vùng An Dương - An Lão gặp cảnh bão lụt và dịch bệnh, Hùng Duệ Vương sai Phạm Hải về giúp. Sau khi xem xét tình hình quanh vùng, ông quyết định đặt nơi làm việc tại Tiểu Trà, Nghi Dương xưa, nay là khu dân cư Tiểu Trà, phường Hưng Đạo, quận Dương Kinh, thành phố Hải Phòng. Ông lo chữa bệnh cho dân, tiếp tế lương thực cứu đói, huy động quân sĩ đắp đê, khơi ngòi… nên nhân dân khắp nơi trong vùng đều được ấm no.
Khi có giặc Ai Lao sang xâm lấn nước ta, vua cho triệu Phạm Hải về triều và lệnh ông đi đánh giặc. Ông cùng anh em Tản Viên Sơn Thánh thu nạp quân lính, tuyển chọn 25 tráng đinh ở Tiểu Trà làm thủ túc cận vệ, lên đường đánh giặc. Nhà vua phong cho ông tước Đô đài Thiên quan Đại Nguyên soái. Khi dẹp xong giặc, đất nước thanh bình, Phạm Hải xin về ở tại quê nhà. Trong một chuyến du ngoạn ngoài biển, ông đã mất tại một hòn đảo phía Nam. Nhà vua biết tin, phong hiệu cho ông là Phúc thần và tên hiệu là Nam Hải Đại Vương, cho nhân dân Tiểu Trà thờ phụng.
Tương truyền đình Tiểu Trà là ngôi đình sang trọng có tiếng bởi có rất nhiều hiện vật giá trị, quý hiếm, nhưng do những biến cố thăng trầm của lịch sử, đến nay đình còn giữ 9 đạo sắc phong thần của ngài qua các triều vua: Gia Long, Minh Mạng năm thứ 4, thứ 5, Tự Đức năm thứ 11, năm thứ 13, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân và Khải Định. Đặc biệt đình Tiểu Trà còn lưu giữ được nhiều hiện vật cổ như: tượng thần, thần phả, nhang án, long đình, long ngai, hòm sắt, đũa ngà, khay thờ, cây đa cổ thụ nay đã 300 tuổi, cao khoảng 38m, đường kính 3m… đã trở thành niềm tự hào của nhân dân nơi đây.
Gần đình làng là chùa Khánh Long. Đây cũng là một ngôi chùa cổ xây dựng cách đây hơn 300 năm, lưu giữ nhiều giá trị văn hóa lịch sử của Tiểu Trà. Qua 5 lần trùng tu, nay chùa được xây dựng trên khuôn viên rộng khoảng 7.000m2, theo lối chữ Đinh như ngày nay. Trong chùa còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ, cây trúc đài, bia chuông cổ từ hơn 300 năm trước và cây nhãn hơn 200 tuổi.

Cây đa cổ thụ hơn 300 tuổi ở đình Tiểu Trà

Không chỉ đẹp ở nét cổ kính mà đình, chùa Tiểu Trà còn là nơi căn cứ cách mạng với nhiều hoạt động yêu nước và cách mạng. Năm 1944, trong phong trào Mặt trận bình dân toàn quốc, đình làng Tiểu Trà nơi tổ chức hội họp, các lớp bình dân học vụ, xây dựng phòng học phổ thông, lập trường làng.
Năm 1945, đơn vị dân quân du kích đầu tiên của thôn Tiểu Trà cũng được thành lập và thường xuyên tập họp ở đây để chuẩn bị cho ngày Tổng khởi nghĩa giành chính quyền. Năm 1946, sau ngày Toàn quốc kháng chiến, thực hiện chỉ thị của cấp trên: Toàn dân tiêu thổ kháng chiến, nhân dân địa phương đành lòng phá dỡ 5 gian đình ngoài, các văn chỉ, tường thành để phòng chống giặc Pháp chiếm đóng sử dụng đình làm căn cứ. Những năm trong vùng địch tạm chiếm, đình là nơi ẩn náu của nhiều cán bộ cách mạng. Trong kháng chiến chống Mỹ, đình là kho chứa các nguyên vật liệu, là nơi đóng quân của đơn vị quân y của binh chủng phòng không không quân, cứu chữa cho các thương binh…
Qua 2 cuộc chiến tranh vĩ đại của đất nước, đình, chùa Tiểu Trà đã trở thành một chứng nhân lịch sử, là nơi ghi dấu, nhắc nhớ nhiều thế hệ con người quê hương về những năm tháng hào hùng, về sự hi sinh mất mát lớn lao của dân tộc… Năm 2005, cụm di tích đình, chùa Tiểu Trà đã được thành phố công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa.

Theo Báo ANHP